Jimmy Carter

Jimmy Carter. Ảnh: New Yorker

Sự kiện Tổng thống Jimmy Cartervừa đến Việt Nam hôm 18-11-2009 trong một chương trình thí điểm xây nhà cho người nghèo được truyền thông rất là mờ nhạt. Có lẽ vì ít ai biết, ông chính là người chủ động “bình thường hoá” với Việt Nam n###### khi vừa nhậm chức Tổng thống. Nếu nỗ lực của ông không thất bại, Việt Nam- trong thập niên 70-80- đã mang một gương mặt khác. Tổng thống Jimmy Carter đã giải thích quyết định của mình trong bài phỏng vấn được dùng để mở đầu phần quan trọng nhất của hội thảo Việt Nam và Các Đời Tổng Thống (được tổ chức hồi tháng 12-2005 tại Boston). Bài phỏng vấn được thực hiện bởi Brian Williams, một người dẫn chương trình nổi tiếng của đài truyền hình NBC, khi ấy, tôi đã lược thuật để đăng trên Tuổi Trẻ.

Thưa ông, tôi nghĩ chúng ta nên bắt đầu từ những ảnh hưởng của chiến tranh Việt Nam lên nhiệm kỳ tổng thống của ông, cuộc đời ông, với tư cách là một cựu binh, một người cha?

Con trai lớn của tôi, Jack, nghĩ đến nghĩa vụ quân sự khi đang học ở trường kỹ nghệ Georgia. Nó cho rằng sẽ không công bằng nếu cứ ngồi nhà và nó đã rời trường để đi đến Việt Nam. Và, tôi tiếp nhận Nhà trắng từ Gerald Ford, người làm tổng thống khi cuộc rút lui khỏi Việt Nam xảy ra. Đó là một yếu tố quan trọng, xét về mặt cá nhân. N###### sau đó (1977), Chúng ta bắt đầu nói chuyện với đại diện Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc và tại Washington để xem liệu chúng ta có bình thường hoá quan hệ với Việt Nam được không. Tuy nó đã không kết quả nhưng tôi cảm thấy hài lòng vì nó đã được bắt đầu không quá lâu sau chiến tranh.

Thưa Tổng thống, những cuộc hội đàm đó diễn ra thực sự nghiêm túc?

Nội dung những cuộc thương thuyết đó đã được đặt lên bàn Tổng thống. Tôi có những đề xuất từ Ngoại trưởng (Cyrus Vance), từ Cố vấn An ninh Quốc gia (Zbigniev Brzezinski), người ủng hộ, người chống; những đề nghị về mức độ công khai các cuộc nói chuyện bí mật đó; mức độ tham gia của các thành viên bên Quốc hội… Yêu cầu lúc đầu của phía Việt Nam là chúng ta phải bồi thường chiến tranh theo một số cách thức. Nhưng cuối cùng, tôi nhớ là năm 1978, họ rút lại đòi hỏi này. Điều phức tạp là cũng năm đó, tôi phải dồn tâm trí và đích thân đàm phán bình thường hoá với Trung Quốc. Những cuộc hội đàm giữa Isreal và Ai Cập lúc ấy cũng đang diễn ra tại trại David. Tôi phải nói rằng, năm 1978, vấn đề Việt Nam không còn là ưu tiên hàng đầu của tôi nữa.

Tôi nghĩ có thể vì nó quá sớm?

Vâng, sớm. Nhưng chúng ta mở đầu mà.

Ông từng nói, quyết định khó khăn nhất của ông là quyết định ân xá cho những người (Mỹ) trốn lính trong chiến tranh Việt Nam, đó cũng là quyết định đầu tiên của ông với tư cách Tổng thống?

Đúng. Trong lễ nhậm chức, từ trên khán đài với Tổng thông Gerald Ford, một trong những người bạn tốt và gần gũi nhất của tôi hiện nay, tôi cảm ơn ông, người mà tôi vừa đánh bại trong cuộc bầu cử năm 1976, về những gì ông đã làm để hàn gắn đất nước. Rồi tôi rời khỏi lễ đài đi vào bên trong toà nhà Quốc hội, trước khi sang Nhà Trắng, tôi ký lệnh ân xá cho những người chạy sang Canada trốn lính nhằm tránh cuộc chiến tranh Việt Nam. Riêng những người lính đào ngũ, tôi không ân xá cho họ. Đó là một quyết định khó khăn nhưng đó là một việc làm đúng.

Khi lệnh đó chưa ráo mực, ông bị chỉ trích n###### là đã “đi quá xa”. Đó có phải là bài học đầu tiên của ông với tư cách một Tổng thống?

Đó là việc đầu tiên tôi làm, không kể bài diễn văn nhậm chức. Tôi ký nó chỉ trong vòng 30 phút sau khi tôi tuyên thệ Tổng thống. Những lời chỉ trích, đương nhiên là bài học đầu tiên rồi, nhưng nó không làm tôi ngạc nhiên. Tôi đã từng là một thống đốc. Tôi hiểu, không có điều gì làm hài lòng mọi người. Nhất là một điều ám ảnh đất nước như chiến tranh Việt Nam. Tôi nghĩ đó là một bước cần thiết để khởi đầu việc hàn gắn và đưa chúng ta ra khỏi nỗi ám ảnh Việt Nam để đi tới một kỷ nguyên mới tốt đẹp hơn.

Thưa ông, ở sân bay mới đây, tôi nhìn thấy những người tình nguyện ra đón những người lính trở về từ Iraq. Tôi tự nghĩ, “nếu điều ấy đã từng xảy ra với những người lính trở về từ Việt Nam”. Người ta thường nói, “căm ghét chiến tranh, cứ việc, nhưng đừng căm ghét những người lính”. Tôi tò mò muốn biết cảm giác của ông về cảnh những người lính đã bị đối xử như thế nào khi trở về từ Việt Nam?

Như tôi đã nói, Brian, con trai tôi là một trong số họ. Con tôi về phép hai lần trong thời gian ở trong quân đội. và, nó đã bị dị ứng khi mặc quân phục trong những ngày nghỉ phép. Có khá nhiều sự khinh khi, xúc phạm và chê trách vì nó đã ngây thơ từ bỏ những đặc lợi ở trường để đến Việt Nam. cả các bạn đồng lứa cũng chê trách nó. Chỉ sau khi trở thành Tổng thống, tôi bổ nhiệm Max Cleland, một cựu binh, như anh biết, mất cả hai chân và một cánh tay ở Việt Nam, đứng đầu bộ Cựu Chiến Binh, sự hàn gắn mới bắt đầu tiến triển.

Về cuộc chiến ở Iraq, thưa Tổng thống, ông thấy thế nào khi so sánh với cuộc chiến tranh Việt Nam?

Tôi muốn so sánh một cách cẩn trọng, chiến tranh Việt Nam có một kết cục rất xấu cho nước Mỹ, một thất bại rất rõ ràng. Chúng ta phải rút lui từ trên nóc nhà bằng trực thăng ở phút chót; đối phương của ta thắng thế cả về quân sự lẫn chính trị. Tôi hy vọng, tôi chờ đợi và tôi cầu nguyện điều đó đừng xảy ra cho chúng ta ở Iraq. Có vài điểm tương đồng, nhưng tôi nghĩ, về lâu dài chúng ta không phải rút lui trong thất bại như chúng ta đã từng, ở Việt Nam.

Thưa Tổng thống, ông nghĩ sao về vai trò của Tổng thống John F. Kennedy với chiến tranh Việt Nam?

Có nhiều người tham gia trực tiếp hội thảo này hiểu điều này hơn tôi. Khi ấy tôi mới là một nhà chính trị trẻ, nhưng theo hiểu biết của tôi, trách nhiệm dẫn tới chiến tranh Việt Nam căn bản thuộc về Tổng thống Kennedy. Sau khi người Pháp rút, chúng ta nghĩ rằng, ta có thể thế chỗ họ để chống cộng ở châu Á. Tôi nghĩ Tổng thông Kennedy chỉ định tham gia có giới hạn. Nhưng khi Tổng thống Lyndon B. Johnson kế nhiệm (Tổng thông Kennedy bị ám sát năm 1963), ông đã dính líu ngày càng sâu thêm, rồi chiến tranh Việt Nam trở thành sĩ diện quốc gia và lòng tự trọng của ông ấy. Tôi nghĩ, chúng ta đã đánh giá thấp sự ngoan cường của Bắc Việt, chúng ta đồng thời đánh giá quá cao khả năng và quyết tâm những người Việt Nam ở phía chúng ta.

Ngài nghĩ sao khi nhìn lại lý thuyết Domino?

Tôi làm Tổng thông dưới thời chiến tranh lạnh, thời mà chúng ta bị cạnh tranh ở khắp nơi trên Thế giới bởi Liên Xô. Thuyết Domino và mối đe doạ của nó là một điều có thực. Nhưng chúng ta đã đánh giá sai và có phần phóng đại mối đe doạ đó. Việt Nam là một ví dụ.

Huy Đức

3 Responses to “Jimmy Carter”

  1. Umbala Says:

    Osin, tôi và rất nhiều người mong anh trở lại!

  2. Phó Thường Dân Says:

    http://guihuongchogio.vnweblogs.com/post/4523/228101
    Ngày TT Thiệu qua đời, dù là “nguyên thủ của tôi” nhưng tôi không khóc, tôi chỉ bùi ngùi trước sự mất còn của một nhân vật lịch sử và hiểu rằng, ông chỉ là một phần quá khứ của tôi chứ không phải tương lai .
    Ngày Thủ tướng Võ văn Kiệt mất tôi lại khóc bởi tôi biết cái cơ hội xoá đi cảnh tượng “triệu người vui cũng có triệu người buồn” sẽ không còn nữa…và thật thế, 30/4 năm nay, 35 năm sau ngày thống nhất đất nước, “đất nước” lại chong đèn kết hoa, lại diễu binh mừng chiến thắng !
    Bao giờ “đừng thêm những tháng tư” ? Bao giờ “để vết thương kéo da non thay vì vỡ toạt” ? Ai – cấp lãnh đạo nào thay Thủ tướng Võ văn Kiệt để làm được những điều mà Thủ tướng Võ văn Kiệt đã từng trăn trở ?
    Tôi là “nguỵ”, ba tôi là Đại tá Sư trưởng QĐNDVN. Năm 1975 tôi ở tù 7 năm và bây giờ đang định cư tại Mỹ, ba tôi 82 tuổi đang chờ tôi từng ngày…Có cuộc chiến nào “tàn ác” như cuộc chiến VN ?_ Đặng kim Toàn

  3. Phó Thường Dân Says:

    http://hoangsa.org/forum/threads/28874-Ngay-ket-thuc-noi-chien-My-nam-1865?p=345894#post345894
    Mùa hè năm 2005, tôi có dịp thăm thị xã Appomattox, bang Virginia, gần thủ đô Hoa Kỳ Washington DC. Đây là một địa điểm lịch sử, quanh năm đông khách du lịch. Sân bay, ga xe lửa ở gần. Bãi xe bus rộng. Khắp các bang nước Mỹ đổ về đây. Và mỗi ngày, hàng trăm khách quốc tế, đổ đến, từ Nhật Bản, châu Âu, Mỹ la tinh, Úc …

    Nơi đây, hơn 140 năm trước, vào năm 1865, Bắc – Nam, cuộc nội chiến bi thảm Bắc – Nam Hoa Kỳ, sau 4 năm diễn ra quyết liệt, đã kết thúc với cuộc đầu hàng của quân phía Nam trước đại diện quân phía Bắc. Từ đó, thị trấn nhỏ Appomattox trở thành di tích lịch sử lớn, đánh dấu thời điểm chấm dứt nội chiến, mở ra thời kỳ thống nhất đất nước, để từ đó Hoa Kỳ gắn bó dân tộc và mở rộng bờ cõi, trở nên cường quốc số 1, hùng mạnh nhất thế giới cả về chính trị, quân sự, kinh tế – tài chính lẫn văn hóa, giáo dục.

    Cả thị trấn Appomattox trở thành bảo tàng sống, mang tên Công viên Quốc gia Lịch sử – National Historical Park.

    Trung tâm là ngôi nhà Courthouse, nơi đại diện 2 bên gặp nhau, được giữ nguyên như cũ, nằm ngay giữa thị trấn, cạnh là nhà lưu niệm, giữ lại vô vàn kỷ vật: quân phục, giày mũ, vũ khí, huân chương, quân hàm, quân hiệu, cờ từng đơn vị, bản đồ, tranh vẽ các trận chiến, chân dung, đồ họa, ảnh… về cuộc nội chiến. Cạnh đó là cửa hàng lưu niệm luôn đông khách, bán sách, tranh, tượng, đĩa DVD, băng ghi âm, áo thể thao, đĩa, cốc in hình lịch sử, bưu ảnh. Còn có phòng chiếu phim và một sân khấu ngoài trời để xem kịch, nghe hòa nhạc…

    Cuộc đi thăm Appomattox để lại trong tôi một ấn tượng rất sâu, rất đậm. Anh bạn đại tá hải quân Mỹ Collins và anh bạn nhà báo Mỹ Andrew say sưa kể cho tôi những chuyện xúc động về cuộc nội chiến, về tác dụng lịch sử của việc chấm dứt nội chiến, xóa bỏ nguy cơ chia thành 2 quốc gia, tạo nên sự thống nhất và củng cố quốc gia Hoa Kỳ một cách vững chắc và mạnh mẽ liên tục cho đến ngày nay.

    Từ sau khi thăm bảo tàng sống này, đã 5 năm nay, cứ đến tháng 4, nhớ đến ngày 30 tháng 4 ở nước ta, tôi lại nhớ đến tháng 4 năm 1865 ở Hoa Kỳ, cách nhau đúng 110 năm. Cùng vào tháng 4, cùng vào cuối mùa xuân, tiếng súng nội chiến bi thảm, quân miền Bắc và quân miền Nam bắn giết nhau chấm dứt, quân miền Nam đầu hàng quân miền Bắc. Nhiều điểm giống nhau. Nhưng cũng nhiều điều khác hẳn nhau. So sánh, đối chiếu thấy có khá nhiều điều bổ ích.

    Hoa Kỳ lập quốc từ ngày 4 tháng 7 năm 1776 với bản Tuyên Ngôn Độc Lập lịch sử, kết thúc cuộc chiến chống đế quốc Anh, giải thoát 13 vùng đất thuộc địa của nước Anh. George Washington là Tổng thống đầu tiên của Hợp Chúng Quốc Mỹ (United States of America). Hiến pháp Hoa Kỳ do Thomas Jefferson khởi thảo được thông qua ngày 17-9-1787.

    Hoa Kỳ được tạo nên bởi nhiều vùng khác biệt, do dân tứ xứ nhập cư, chủ yếu là từ hơn gần chục nước châu Âu: Anh, Ireland, Pháp, Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức, Ba Lan, Hy Lạp… cùng với hàng chục thổ dân bản địa tạo thành, với nhiều tiếng nói khác nhau…

    Do đất rộng, lại tốt, chăn nuôi, trồng trọt phát triển nhanh, các chủ trại đưa đông đảo dân nghèo châu Phi sang khai khẩn, mở ra những nông trại lớn ở phìa Nam, tạo nên cuộc buôn bán nô lệ quy mô lớn với những công ty chuyên tuyển mộ, vận chuyển, mua, nhượng, thuê, bán nhân lực lao động, gồm hàng trăm, hàng nghìn rồi hàng vạn, chục vạn người da đen từ châu Phi…

    Dẩn dần 2 vùng Bắc và Nam có những đặc điểm khác nhau. Miền Bắc phát triển mạnh công nghiệp, điện lực, cơ khí, đường xá, giao thông, vận tải, đường bộ, đường sắt, hải cảng, thu hút hầu hết dân di cư từ châu Âu.

    Miền Nam đất rộng, phì nhiêu, mở nhiều nông trại lớn dùng hơn 85% dân nô lệ nhập cư, trồng lúa mì, trồng bông, chăn nuôi quy mô lớn ngựa, cừu, bò. Tôn giáo, dân tộc giữa Bắc Nam cũng có những khác biệt.

    Vào những năm 1850, quốc hội Mỹ thảo luận vấn đề thực hiện giải phóng nô lệ, nghiêm cấm việc buôn bán con người. Thế là có sự phân hóa. Các đại biểu các bang miền Bắc muốn nghiêm cấm ngay, triệt để. Các đại biểu miền Nam không phản đối, nhưng muốn trì hoãn để kéo dài, vin cớ nạn buôn bán nô lệ tuy không hợp đạo lý nhưng là động lực quan trọng cho phát triển kinh tế, có lợi cho mọi người, cứu cả người nô lệ khỏi chết đói; cho nên chỉ cần làm ngay là đối xử nhân đạo, không đánh đập chửi bới nô lệ, sau này sẽ hay.

    Cuộc tranh luận gay gắt, đến hồi bế tắc khi Abraham Lincoln trúng cử Tổng thống Liên bang. Ông là người đề xướng dứt khoát việc hủy bỏ ngay nạn phi nhân này. Thế là đại diện 11 bang phía Nam tuyên bố ly khai thành các Cộng đồng phía Nam – Confederations – tách khỏi 23 bang phía Bắc vẫn ở trong Union – Hợp Chúng quốc.

    Trận chiến diễn ra suốt 4 năm, trên những chiến tuyến di động, nằm khoảng giữa và ở về phía Đông Hoa Kỳ. Có hồi miền Nam thắng thế, kéo theo 7 bang về phía mình là: Bắc Carolina, Alabama, Florida, Georgia, Louisana, Mississipi và Texas. Từ đầu năm 1865 thắng lợi nghiêng hẳn về phía Bắc đông người hơn, lại do công nghiệp cung cấp nhiều vũ khí trang bị tốt, xe lửa, tầu chiến, pháo binh mạnh hơn.

    Mùa Xuân 1865, quân miền Bắc do tướng Ulysses S. Grant là tổng chỉ huy, lúc ấy ông 43 tuổi, đánh chiếm thành phố Richmond, thủ phủ bang Virginia, cũng là thủ phủ của Miền Nam, (gần cuối tháng 3), và 2 tuần lễ sau vây chặt đội quân lớn của đại tướng Robert F. Lee, tổng chỉ huy quân miền Nam, giáng đòn quyết định ở hẻm núi gần Appomattox, khiến quân miền Nam bị cạn lương thực, không thể chờ quân tiếp viện còn ở xa, buộc phải đầu hàng ngày 9-4-1865.

    Trong 4 năm nội chiến, số quân của 2 bên lúc cao nhất lên đến 2 triệu 800 ngàn quân, quân miền Bắc chừng 1 triệu 6, quân miền Nam chừng 1 triệu 2. Tổn thất cả 2 bên là 628 ngàn binh lính tử trận. Số dân miền Bắc chừng 24 triệu, số dân miền Nam chừng 11 triệu, khi chiến tranh kết thúc.

    Cuộc viếng thăm khu Vườn Lịch sử Quốc gia Appomattox để lại ấn tượng sâu đậm nhất là cảnh đầu hàng đã diễn ra rất cảm động, gây bất ngờ lớn cho quân miền Nam bại trận. Cảnh này được kể lại, tái tạo bằng nhiều tranh vẽ, phóng sự, tường thuật tại chỗ bởi các phóng viên báo chí hồi ấy. Chỉ tiếc rằng hồi ấy máy ảnh còn thô sơ, nặng nề, chưa có máy quay phim, máy ghi âm.

    Đại thể cuộc nội chiến Hoa Kỳ kết thúc rất độc đáo, không giống bất kỳ cuộc chiến nào khác, rất đẹp, cảm động, rất có hậu.

    Đó là đêm 8-4-1865, đội quân chủ lực của miền Nam do tướng Gordon chỉ huy ở trong tình trạng tuyệt vọng, Tướng Gordon gửi báo cáo cho tướng R. Lee ở gần đó: “Chúng tôi đã chiến đấu bằng mọi khả năng. Thưa Đại tướng, chúng tôi không thể làm gì hơn”. Tướng Lee triệu tập gấp bộ Tham mưu, lắc đầu rầu rĩ: “Tình hình này, tôi không thể làm gì hơn là đến gặp tướng Grant để đầu hàng”. Nơi hẹn gặp nhau là ngôi nhà nhỏ mang tên Courthouse giữa thị trấn Appomattox gần đó.

    Nửa giờ sau tướng Grant có mặt. Ông cố tình mặc cực kỳ giản dị, không quân phục, không huân chương, không mang kiếm, ủng đầy bùn, áo khoác đen. Tướng Lee mặc quân phục tươm tất chào trình diện. Tướng Grant bắt tay, mời ngồi. Tướng Lee đề nghị tướng Grant đề ra những điều kiện đầu hàng. Tướng Grant đã nghĩ kỹ, liền thảo xong ngay rồi đưa cho tướng Lee yêu cầu xem lại và có ý kiến gì không. Tướng Lee đọc to, chậm rãi: “… vũ khí, đại bác, tài sản công phải liệt kê, sắp xếp, giao nộp đủ, trừ kiếm, súng ngắn cá nhân của sỹ quan; lừa ngựa và tư trang của sỹ quan, binh lính được phép giữ lại. Giao nộp xong, mọi sỹ quan binh sỹ đều được trở về nguyên quán. Họ sẽ không bị cơ quan công quyền nào quấy nhiễu với điều kiện tôn trọng lệnh đầu hàng và mọi luật lệ địa phương…”. Lừa ngựa rất cần cho nghề nông ở miền Nam ai mang theo được phép mang về.

    Tướng Lee tươi tỉnh hẳn lên, vui mừng hiểu ra rằng quân lính của mình không bị giam giữ như tù binh chiến tranh, không bị làm nhục, hành hạ, cũng không ai bị ra tòa về tội phản loạn.

    Cuối cùng tướng Grant hỏi tướng Lee có cần điều gì không? Tướng Lee cám ơn: “Thưa những điều này sẽ làm quân lính tôi rất lên tinh thần. Chỉ có một vấn đề khẩn cấp là chúng tôi cạn sạch lương thực …”. Tướng Grant đáp ứng ngay, ra lệnh xuất lập tức 25 ngàn khẩu phần cho đội quân phía Nam.

    Họ siết chặt tay nhau, dơ tay chào nhau để từ biệt.

    Trên chiến tuyến còn khói lửa, tin chấm dứt chiến tranh lan cực nhanh, binh sỹ miền Bắc hò hét, tung mũ, ôm nhau, hôn nhau, nhiều nơi bắn súng loạn xạ ăn mừng chiến thắng. Đại tướng U. Grant liền ra lệnh ngừng ngay những biểu hiện ồn ào. Ông ra nghiêm lệnh “Quân miền Nam đã đầu hàng; Chúng ta không được phép reo vui trên thất bại đau buồn của họ.” Ông giải thích cho toàn quân: “Chúng ta phải giữ trọn vẹn tình anh em trong cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ”. Ông nói thêm “Điều cả nước ăn mừng là các bang miền Nam đã trở về lại trong Union – Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ – gồm các bang anh em bình đẳng”.

    Thủ tục chấm dứt chiến tranh được cử hành sau đó 3 ngày, vào sáng 12-4, trong một khu rừng cạnh Appomattox. Tướng Chamberlain chỉ huy đội quân miền Bắc. Tướng Gordon, 4 lần bị thương, chỉ huy 28 ngàn quân miền Nam đến nộp súng, đại bác, xe cộ, quân kỳ các đơn vị…

    Khi mọi việc bàn giao xong, tướng Chamberlain đột nhiên hô lớn: “Tập họp! Nghiêm! Bồng súng! Chào!”. Tiếng kèn vang lên, thế là quân lính miền Bắc thẳng người bồng súng tay phải đặt ngang ngực, mắt nhìn thẳng, nhiều đôi mắt đẫm lệ vì xúc động, kính chào những người anh em miền Nam của mình vừa buông súng.

    Một bức tranh màu tuyệt đẹp hình tướng Gordon cưỡi con ngựa trắng quỳ gối, tuốt gươm trần chúc mũi chào đội quân thắng trận, và đội quân thắng trận bồng súng chào tạm biệt những người anh em miền Nam của mình.

    Vâng, thực tế lịch sử tháng 4 – 1865, 145 năm về trước trên đất Hoa Kỳ là như thế. Phải là một dân tộc trưởng thành, chuộng tình nghĩa, đậm tình nhân ái, ngấm sâu tình tự dân tộc, mới có những cung cách xử sự cao thượng đến vậy. Điều này giải thích vì sao một dân tộc rất trẻ, mới hình thành có vài trăm năm, qua nội chiến bi thảm, đã cố kết chung lòng chung sức xây dựng thành công một cường quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới.

    Nhân dân ta, nhất là lãnh đạo đảng CS rất nên tìm hiểu sự kiện lịch sử tháng 4-1865 trên đất Hoa Kỳ, đối chiếu với những gì họ đã làm sau 30-4-1975, sẽ có vô vàn bài học thấm thía và bổ ích.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: